Đặt ống thông không liên tục liên quan đến việc không đưa ống thông vào cơ thể bệnh nhân trong một thời gian dài. Thay vào đó, ống thông được đưa gián đoạn qua niệu đạo vào bàng quang của bệnh nhân và được lấy ra ngay sau khi quá trình đặt ống thông hoàn tất. Trong số các kỹ thuật đặt ống thông chủ đạo, phương pháp tự đặt ống thông sạch ngắt quãng là phương pháp điều dưỡng chiếm ưu thế. Phương pháp tự thông tiểu ngắt quãng sạch sẽ tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vô trùng để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu. Để chăm sóc bệnh nhân, cần đo lượng nước tiểu tồn dư và áp lực bên trong bàng quang. Sau đó, nên lựa chọn kế hoạch lấy nước thích hợp và ống thông dùng một lần.
1.Đo lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang
Hướng dẫn bệnh nhân tự đi tiểu càng nhiều càng tốt rồi thực hiện đặt ống thông tiểu ngay. Lượng nước tiểu chảy ra là lượng nước tiểu còn sót lại. Ngoài ra, siêu âm B có thể được sử dụng để đo lượng nước tiểu còn sót lại ở nam giới trong bàng quang. Lượng nước tiểu tồn dư bình thường ở phụ nữ là dưới 50ml và ở nam giới là dưới 20ml. Khi lượng nước tiểu tồn dư vượt quá 100ml, nên thực hiện đặt ống thông tiểu ngắt quãng. Tần suất đặt ống thông được xác định dựa trên dung tích bàng quang, áp lực và lượng nước tiểu tồn dư của bệnh nhân. Thông thường, nó là 4-6 lần mỗi ngày. Khi lượng nước tiểu còn sót lại dưới 100ml, tần suất đặt ống thông có thể giảm. Một lần đặt ống thông được thực hiện trước khi đi ngủ và một lần khi thức dậy; khi lượng nước tiểu còn sót lại dưới 50ml thì có thể ngừng đặt ống thông tiểu.
2. Đo thể tích và áp lực bàng quang đơn giản
Dung tích bàng quang bình thường của người trưởng thành là 300 đến 500 ml và áp suất trong bàng quang trong giai đoạn làm đầy là 10 đến 15 cmH2O. Khi áp lực trong bàng quang vượt quá 40 cmH2O, nguy cơ rối loạn chức năng đường tiết niệu trên như trào ngược niệu quản và thận ứ nước tăng lên đáng kể. Vì vậy, 40 cmH2O được coi là giới hạn trên của áp suất an toàn.
3. Kế hoạch nước uống cá nhân
Ba ngày trước khi thực hiện đặt ống thông tiểu ngắt quãng, bệnh nhân sẽ được xây dựng kế hoạch uống nước. Bệnh nhân được hướng dẫn uống nước đều đặn, với tổng lượng nước uống giới hạn ở mức 1800-2000 ml mỗi ngày, tốt nhất là mỗi giờ một lần, mỗi lần uống là 100-125 ml. Không uống nhiều nước cùng một lúc và không uống nước trước khi đi ngủ. Thực hiện nghiêm túc kế hoạch uống nước để sắp xếp hợp lý tần suất và thời gian đặt ống thông tiểu ngắt quãng. Ngoài ra, dựa trên lượng nước để đặt ống thông tiểu ngắt quãng được bệnh nhân khuyến nghị (tốt nhất là 400-500 ml) và tổng lượng nước tiểu hàng ngày, phản hồi sẽ được cung cấp để giúp bệnh nhân hình thành thói quen đi tiểu đều đặn và đảm bảo việc rèn luyện bàng quang được thực hiện kịp thời. Việc đặt ống thông tiểu ngắt quãng đòi hỏi phải làm giãn bàng quang định kỳ và làm rỗng bàng quang, điều này gần như bình thường. Sử dụng phương pháp đặt ống thông tiểu theo thời gian trong điều kiện sinh lý để tạo thuận lợi cho việc phục hồi chức năng bàng quang.
4. Lựa chọn ống thông tiểu dùng một lần
Ống thông tiểu Fr8-Fr12 dùng một lần phải có khả năng tương thích sinh học tốt, mềm mại và linh hoạt, được làm bằng vật liệu có độ bền cao và đáp ứng các yêu cầu về vô trùng, không xâm lấn và dễ sử dụng. Hiện nay có hai loại được sử dụng rộng rãi là lớp phủ không kỵ nước và lớp phủ ưa nước. Đối với những bệnh nhân vừa mới tháo ống thông tiểu bên trong và bắt đầu đặt ống thông tiểu gián đoạn, tốt nhất nên chọn ống thông có lớp phủ ưa nước. Sau một tuần, họ có thể chuyển sang sử dụng ống thông có lớp phủ không thấm nước; nếu điều kiện tài chính của bệnh nhân cho phép, họ có thể tiếp tục sử dụng ống thông có lớp phủ ưa nước. Bởi vì các ống thông có lớp phủ ưa nước không chỉ gây ra ít triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu, tiểu máu và các biến chứng khác mà còn làm giảm nguy cơ chấn thương niệu đạo nên chúng là lựa chọn ưu tiên cho các ống thông tiểu ngắt quãng.
Nội dung của bài viết này có nguồn gốc từ internet. Tác giả không chịu trách nhiệm về nó. Nếu không được phép, việc sao chép bị nghiêm cấm.